Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 31/12/2013. Hành vi vi phạm quy định cấm hút thuốc nơi công cộng sẽ bị phạt từ 100.000 đồng - 300.000 đồng,
Thứ sáu, 18/10/2019
CÔNG ƯỚC KHUNGCÁC HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN

Hướng dẫn thực hiện Điều 13

Cập nhật lúc 11:22 07/06/2013
Hướng dẫn này cung cấp hướng dẫn cho các bên tham gia Công ước trong việc áp dụng và thi hành luật cấm triệt để việc quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá hoặc áp dụng những biện pháp hạn chế quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá càng triệt để càng tốt đối với những quốc gia chưa thể thực hiện cấm hoàn toàn do hiến pháp hay các nguyên tắc hiến pháp của họ chưa cho phép làm như vậy.
HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN ĐIỀU 13, CÔNG ƯỚC KHUNG VỀ KIỂM SOÁT THUỐC LÁ CỦA TỔ CHỨC Y TẾ THẾ GIỚI
 
QUẢNG CÁO, KHUYẾN MẠI, VÀ TÀI TRỢ THUỐC LÁ
 
 
MỤC ĐÍCH VÀ MỤC TIÊU
 
Mục đích của Hướng dẫn này là hỗ trợ các quốc gia tham gia Công ước thực hiện nghĩa vụ của mình theo Điều 13 của Công ước khung về Kiểm soát Thuốc lá của Tổ chức Y tế Thế giới. Những hướng dẫn này dựa trên bằng chứng và kinh nghiệm tốt nhất hiện có của những quốc gia đã áp dụng thành công các biện pháp chống quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá. Tài liệu này cung cấp hướng dẫn cho các bên tham gia Công ước trong việc áp dụng và thi hành luật cấm triệt để việc quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá hoặc áp dụng những biện pháp hạn chế quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá càng triệt để càng tốt đối với những quốc gia chưa thể thực hiện cấm hoàn toàn do hiến pháp hay các nguyên tắc hiến pháp của họ chưa cho phép làm như vậy.
 
Tài liệu này cung cấp hướng dẫn những biện pháp tốt nhất để thực hiện Điều
13 của Công ước nhằm loại bỏ các hình thức quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá một cách hiệu quả ở cả cấp quốc gia và quốc tế.
 
Những nguyên tắc sau được áp dụng:
 
(a)  Có đầy đủ tài liệu chứng minh là hoạt động quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá làm gia tăng tình trạng sử dụng thuốc lá, và rằng thực hiện cấm triệt để quảng cáo, quảng bá và bảo trợ thuốc lá làm giảm tình trạng sử dụng thuốc lá.
 
(b)  Như đã được các quốc gia tham gia Công ước nhất trí trong Điều 13.1 khoản 1 và 2, một qui định cấm quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá có hiệu quả cần phải triệt để và áp dụng cho mọi hình thức quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá.
 
(c)  Theo định nghĩa trong Điều 1 của Công ước, một qui định cấm triệt để mọi hoạt động quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá áp dụng cho mọi hình thức truyền đạt, giới thiệu hay hành động quảng cáo và mọi hình thức đóng góp cho các sự kiện, hoạt động hay cá nhân với mục đích, tác dụng hay có thể có tác dụng trực tiếp hay gián tiếp quảng bá cho một sản phẩm thuốc lá hay cho việc sử dụng thuốc lá.
 
(d)  Qui định cấm quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá cần bao gồm cả hoạt động quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc qua biên giới, trong đó có cả quảng cáo, quảng bá và bảo trợ thuốc lá ra nước ngoài (bắt nguồn từ lãnh thổ quốc gia tham gia Công ước) và từ nước ngoài (vào lãnh thổ quốc gia tham gia Công ước)
 
(e)  Để có hiệu quả, luật cấm quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá toàn diện cần nhằm vào mọi cá nhân tổ chức tham gia vào việc sản xuất, bố trí và/hoặc phổ biến quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá.
 
(f)   Đảm bảo hỗ trợ và tạo điều kiện cho công tác giám sát, thi hành và các chế tài xử phạt thông qua các chương trình giáo dục công chúng và nâng cao nhận thức cộng đồng hiệu quả có ý nghĩa quan trọng đối với việc thực hiện cấm triệt để quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá.
 
(g)  Xã hội dân sự đóng vai trò trung tâm trong quá trình xây dựng, phát triển và đảm bảo việc tuân thủ luật pháp về quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá, và cần được coi là một đối tác tích cực tham gia vào quá trình này.
 
(h)  Hợp tác quốc tế hiệu quả là điều cơ bản đối với việc loại bỏ các hoạt động quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá cả trong nước và qua biên giới.
 
PHẠM VI CỦA QUI ĐỊNH CẤM TRIỆT ĐỂ
 
Phạm vi của qui định cấm triệt để đối với quảng cáo, quảng khuyến mại và tài trợ thuốc lá được mô tả bằng những thuật ngữ chung trong tiểu mục “Tổng quan” (đoạn 5-11) dưới đây, còn các tiểu mục tiếp theo (đoạn 12-24) đề cập đến những khía cạnh có thể mang lại thách thức cho các nhà quản lý khi đưa ra áp dụng luật cấm triệt để.
 
 
Tổng quan
 
Qui định cấm quảng cáo, quảng bá và bảo trợ thuốc lá chỉ có hiệu quả nếu nó có phạm vi rộng. Hoạt động thông tin tiếp thị hiện nay sử dụng một phương pháp tiếp cận kết hợp để quảng cáo và xúc tiến việc mua bán hàng hóa, bao gồm các phương pháp tiếp thị trực tiếp, quan hệ công chúng, xúc tiến bán hàng, bán hàng trực tiếp và tiếp thị tương tác trực tuyến. Nếu chỉ cấm một số hình thức quảng cáo thuốc lá trực tiếp nào đó, thì hiển nhiên ngành công nghiệp thuốc lá sẽ chuyển chi phí sang các chiến lược quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá khác, sử dụng những phương cách sáng tạo và gián tiếp để quảng bá cho sản phẩm thuốc lá và sử dụng thuốc lá, nhất là trong giới trẻ.
 
Do đó một qui định cấm quảng cáo nửa vời đối với tiêu thụ thuốc lá sẽ chỉ có hiệu quả hạn chế. Điều này được ghi nhận trong Điều 13 của Công ước trong đó qui định nghĩa vụ cơ bản phải cấm quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá. Theo Điều 13, khoản 1 của Công ước, “Các bên tham gia Công ước ghi nhận rằng một qui định cấm quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá triệt để sẽ làm giảm mức độ tiêu thụ sản phẩm thuốc lá’.
 
Để triển khai việc cấm triệt để như qui định trong Điều 13, khoản 1 và khoản 2 của Công ước, các bên tham gia Công ước cần cấm các hoạt động quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá như theo định nghĩa trong  Điều 1, mục (c) và (g) của Công ước. Điều 1, mục (c) định nghĩa “quảng cáo và khuyến mại thuốc lá” là “bất kỳ hình thức truyền đạt, giới thiệu hay hành động có tính thương mại nào với mục đích, tác dụng hay có thể có tác dụng trực tiếp hay gián tiếp quảng bá cho một sản phẩm thuốc lá hay cho việc sử dụng thuốc lá”. Điều 1, mục (g) định nghĩa “tài trợ thuốc lá” là “bất kỳ hình thức đóng góp nào cho một sự kiện, hoạt động hay cá nhân với mục đích, tác dụng hay có thể có tác dụng trực tiếp hay gián tiếp quảng bá cho một sản phẩm thuốc lá hay cho việc sử dụng thuốc lá”.
 
Điều quan trọng ở đây là cần lưu ý rằng cả “quảng cáo và khuyến mại thuốc lá” và “tài trợ thuốc lá” bao gồm không chỉ việc quảng cáo cho những sản phẩm thuốc lá cụ thể mà cả cho việc sử dụng thuốc lá nói chung; không chỉ hành động với mục đích quảng cáo, mà là cả những hành động có tác dụng hay có thể có tác dụng quảng cáo; và không chỉ những hành động quảng cáo trực tiếp, mà cả quảng cáo gián tiếp nữa. “Quảng cáo và khuyến mại thuốc lá” không chỉ giới hạn ở “truyền đạt” mà còn bao gồm cả “giới thiệu” và “hành động”, bao hàm ít nhất là những loại hình sau: (a) nhiều phương thức bán hàng và/hoặc phân phối khác nhau1; (b) các hình thức quảng cáo hay khuyến mại trá hình, như đưa sản phẩm thuốc lá hoặc hành động sử dụng thuốc lá vào nội dung các chương trình thông tin đại chúng khác nhau; (c) liên kết sản phẩm thuốc lá với các sự kiện hoặc các sản phẩm khác theo nhiều cách khác nhau; (d) bao bì và đặc điểm thiết kế sản phẩm có tính quảng cáo; và (e) sản xuất và phân phối những mặt hàng như kẹo và đồ chơi hay các sản phẩm khác có hình dạng giống điếu thuốc lá hay các sản phẩm thuốc lá khác2. Cũng cần phải lưu ý rằng định nghĩa “tài trợ thuốc lá” bao hàm “bất kỳ hình thức đóng góp nào”, bằng tài chính hay hình thức khác, cho dù khoản đóng góp đó có được ghi nhận và công bố hay không và ghi nhận và công bố như thế nào.
 
Có thể có được tác dụng quảng cáo, cả trực tiếp và gián tiếp, bằng cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh, âm thanh và màu sắc, kể cả nhãn hiệu và thương hiệu, lô-gô,tên tuổi của nhà sản xuất hay nhập khẩu thuốc lá, và màu sắc hay phối hợp màu sắc có liên kết với sản phẩm thuốc lá, nhà sản xuất hay nhập khẩu thuốc lá, hoặc bằng cách sử dụng một phần hay nhiều phần của từ ngữ, thiết kế, hình ảnh và màu sắc. Việc quảng cáo cho chính các công ty thuốc lá (đôi khi được gọi là quảng bá thương hiệu) là một hình thức quảng cáo cho sản phẩm thuốc lá hay cho sử dụng thuốc lá, ngay cả khi không đề cập đến nhãn hiệu sản phẩm hoặc thương hiệu. Quảng cáo, gồm cả hình thức trưng bày sản phẩm và hỗ trợ những vật dụng dùng để hút thuốc như giấy thuốc lá, đầu lọc và dụng cụ để cuộn thuốc điếu, cũng như các mô phỏng sản phẩm thuốc lá, đều có thể có tác dụng quảng cáo cho sản phẩm thuốc lá hay sử dụng thuốc lá.
 
Pháp chế cần tránh đưa ra danh mục những hoạt động bị cấm có thể bị hiểu nhầm hay được hiểu là đã liệt kê đầy đủ. Mặc dù việc nêu ra một vài ví dụ về những hoạt động bị cấm thường là có ích, nhưng khi thực hiện điều đó trong xây dựng luật, ta cần phải làm rõ đó chỉ là ví dụ và không phải là toàn bộ những hoạt động bị cấm. Có thể làm rõ điều đó bằng cách dùng những thuật ngữ như “bao gồm song không chỉ giới hạn ở” hay những cụm từ bao quát như “hay bất kỳ hình thức quảng cáo, khuyến mại hoặc tài trợ thuốc lá nào khác”.
 
Trong Phụ lục đính kèm Tài liệu hướng dẫn này có một danh sách tượng trưng (không đầy đủ) các hình thức quảng cáo, khuyến mại hoặc tài trợ bị cấm qui định trong Điều 13 của Công ước.
 
Khuyến cáo:
 
Luật cấm triệt để quảng cáo, khuyến mại hoặc tài trợ thuốc lá cần bao gồm:
 
■    tất cả các hình thức quảng cáo, khuyến mại hoặc tài trợ, không có ngoại lệ;
■    quảng cáo, khuyến mại hoặc tài trợ trực tiếp và gián tiếp;
■    những hành động nhằm mục đích quảng cáo và hành động có tác dụng hoặc có thể có tác dụng quảng cáo;
■    quảng cáo cho sản phẩm thuốc lá và sử dụng thuốc lá;
■    những truyền đạt có tính thương mại và những giới thiệu hay hành động có tính thương mại;
■    đóng góp dưới bất kỳ hình thức nào cho bất kỳ sự kiện, hoạt động hay cá nhân nào;
■    quảng cáo và xúc tiến thương mại cho nhãn hiệu thuốc lá và tất cả các hình thức quảng bá thương hiệu; và
■    các phương tiện thông tin đại chúng truyền thống (sách báo, TV và đài phát thanh) và tất cả các diễn đàn thông tin đại chúng, kể cả mạng Internet, điện thoại di động và các công nghệ mới khác cũng như phim ảnh.
 
Bán lẻ và trưng bày
 
Việc trưng bày sản phẩm thuốc lá ở điểm bán lẻ tự nó đã là cách quảng cáo và xúc tiến bán hàng. Trưng bày sản phẩm là phương tiện chủ yếu để quảng bá cho sản phẩm thuốc lá và sử dụng thuốc lá, kể cả bằng cách kích thích việc mua ngay sản phẩm thuốc lá, tạo ra ấn tượng rằng việc hút thuốc được chấp nhận về mặt xã hội và làm cho người nghiện thuốc càng khó bỏ thuốc hơn. Giới trẻ đặc biệt dễ bị tác động bởi hiệu quả quảng bá của việc trưng bày sản phẩm như thế.
 
Để đảm bảo các điểm bán thuốc lá không có yếu tố quảng cáo, khuyến mại, các bên tham gia Công ước cần ban hành qui định cấm triệt để bất kỳ hình thức trưng bày sản phẩm nào và cấm bày sản phẩm thuốc lá ở các điểm kinh doanh, kể cả đại lý cố định và người bán rong trên phố. Chỉ cho phép niêm yết tên sản phẩm và giá bán, ngoài ra không được có bất kỳ yếu tố quảng cáo khuyến mại nào. Để bao hàm hết các khía cạnh của Điều 13 của Công ước, lệnh cấm cũng cần được áp dụng trên phà, máy bay, cảng biển và sân bay.
 
Cần cấm sử dụng máy bán hàng tự động vì theo những thuật ngữ của Công ước sự hiện diện của những chiếc máy này là một phương tiện quảng cáo hay xúc tiến bán hàng.
 
Khuyến cáo
 
Việc trưng bày hay bày sản phẩm thuốc lá ở những điểm bán thuốc lá chính là quảng cáo và xúc tiến bán hàng, và do đó phải bị cấm. Cần cấm máy bán hàng tự động vì sự hiện diện của chúng là một phương tiện quảng cáo và xúc tiến bán hàng.
 
Bao bì và đặc điểm thiết kế sản phẩm
 
Bao bì và đặc điểm thiết kế sản phẩm là một yếu tố quan trọng của quảng cáo và khuyến mại. Bao bì hay đặc điểm thiết kế sản phẩm thuốc lá được sử dụng theo nhiều cách khác nhau để thu hút người tiêu dùng, để quảng bá cho sản phẩm và để duy trì và quảng bá bản sắc của nhãn hiệu, ví dụ bằng cách sử dụng lô-gô, màu sắc, cỡ chữ, tranh ảnh, hình dạng và chất liệu trên hoặc trong bao thuốc hay trên từng điếu thuốc hay các sản phẩm thuốc lá khác.
 
Có thể loại trừ tác dụng quảng cáo hay xúc tiến thương mại của bao bì bằng cách yêu cầu sử dụng bao bì đơn giản: chỉ có hai màu đen trắng hoặc hai màu sắc đối lập khác, theo qui định của chính phủ; và trong bao bì chỉ được in nhãn hiệu, tên hàng hóa hay/hoặc nhà sản xuất, địa chỉ/điện thoại liên hệ và số lượng điếu thuốc trong bao, không được có bất kỳ lô-gô hay các đặc điểm khác ngoài lời cảnh báo tác hại của thuốc lá, tem thuế và các thông tin hay dấu hiệu khác theo qui định của chính phủ; phải sử dụng cỡ và kiểu chữ qui định; hình dạng, kích thước và chất liệu tiêu chuẩn. Không được có chi tiết quảng cáo hay khuyến mại bên trong hoặc kèm theo bao thuốc hay trên điếu thuốc hoặc các sản phẩm thuốc lá khác.
 
Nếu chưa có qui định bắt buộc dùng bao bì đơn giản, thì phải áp dụng các qui định hạn chế càng nhiều càng tốt đối với đặc điểm thiết kế làm cho sản phẩm thuốc lá trở nên hấp dẫn hơn đối với người tiêu dùng, ví dụ như động vật hay các hình ảnh khác, những cụm từ ‘ngộ nghĩnh’, màu sắc của giấy thuốc lá, mùi thơm hấp dẫn, bao thuốc mới mẻ hay theo mùa.
 
Khuyến cáo
 
Bao bì và thiết kế sản phẩm là những yếu tố quan trọng của hoạt động quảng cáo và khuyến mại. Các nước nên cân nhắc việc thông qua các qui định bắt buộc sử dụng bao bì đơn giản để loại trừ hiệu quả quảng cáo hay khuyến mại trên bao bì sản phẩm. Bao bì, điếu thuốc rời hay các sản phẩm thuốc lá khác không được có chi tiết quảng cáo hay khuyến mại, kể cả các đặc điểm thiết kế làm cho sản phẩm hấp dẫn hơn.
 
Kinh doanh trên mạng Internet
 
Theo định nghĩa trong Công ước, việc kinh doanh thuốc lá trên mạng tự nó đã là quảng cáo và khuyến mại. Vấn đề không chỉ giới hạn ở quảng cáo và khuyến mại mà còn bao gồm cả chuyện bán thuốc lá cho trẻ vị thành niên, trốn thuế và kinh doanh bất hợp pháp.
 
Cách trực tiếp nhất để tránh quảng cáo và khuyến mại thuốc lá trên mạng là cấm kinh doanh thuốc lá trên mạng5. Qui định cấm đó cần áp dụng cho không chỉ những cá nhân/tổ chức bán sản phẩm mà cả những đối tượng khác, kể cả các công ty phát hành thẻ tín dụng tạo điều kiện cho việc thanh toán hay các dịch vụ giao hàng là sản phẩm thuốc lá.
 
Nếu chưa cấm được hoạt động kinh doanh thuốc lá trên mạng, thì phải áp dụng qui định hạn chế, chỉ cho phép nêu tên sản phẩm và giá cả, không kèm theo hình ảnh hay các đặc điểm quảng bá khác (ví dụ những ám chỉ về giá rẻ chẳng hạn).
 
Với bản chất vụng trộm của hoạt động quảng cáo và quảng bá thuốc lá trên mạng và khó khăn trong việc phát hiện và tìm kẻ kinh doanh trái phép, cần phải có các nguồn lực trong nước để có thể thực thi được những biện pháp đó. Những biện pháp để loại trừ hoạt động quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá qua biên giới đề xuất trong quyết định FCTC/COP3(14), đặc biệt là việc xác định các điểm liên lạc và xử lý những trường hợp do các quốc gia khác thông báo, sẽ giúp đảm bảo cho những nỗ lực thi hành lệnh cấm trong nước không bị mất tác dụng.
 
Khuyến cáo
 
Cần phải cấm kinh doanh thuốc lá trên mạng vì việc làm đó vốn đã bao gồm quảng cáo và khuyến mại thuốc lá.
 
 Trách nhiệm xã hội của công ty6
 
Có xu hướng ngày càng phổ biến là các công ty thuốc lá tìm cách để tự mô tả mình như những doanh nghiệp có trách nhiệm với xã hội bằng cách đóng góp cho những sự nghiệp có ích hay quảng bá những yếu tố “trách nhiệm xã hội” trong hoạt động kinh doanh của họ.
 
Một vài công ty thuốc lá đóng góp tài chính hay hiện vật, trực tiếp hay thông qua các tổ chức cá nhân khác, cho các tổ chức, ví dụ như tổ chức cộng đồng, y tế, phúc lợi hay môi trường. Những đóng góp đó thuộc định nghĩa về tài trợ thuốc lá trong Điều 1(g) của Công ước và cần được đưa vào như một phần của lệnh cấm triệt để, vì mục đích, tác dụng hay tác dụng có thể có của những đóng góp như vậy là nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp quảng bá cho một sản phẩm thuốc lá hay cho sử dụng thuốc lá.
 
Các công ty thuốc lá cũng có thể tìm cách tham gia vào những thực hành kinh doanh có “trách nhiệm xã hội” (như xây dựng quan hệ tốt đẹp giữa người sử dụng lao động và nhân viên, hay việc quản lý tốt môi trường) trong đó không bao gồm đóng góp cho những bên khác. Cần phải cấm việc quảng bá tới công chúng về những hoạt động lẽ ra là đáng khuyến khích nếu không phải do các công ty thuốc lá thực hiện, vì mục đích, tác động hay tác động tiềm tang của những hoạt động đó là nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp quảng bá cho một sản phẩm thuốc lá hay cho việc sử dụng thuốc lá. Phải cấm phổ biến rộng rãi những thông tin như vậy, ngoại trừ cho mục đích thực hiện báo cáo theo yêu cầu (như báo cáo hàng năm chẳng hạn) hay mục đích quản trị doanh nghiệp cần thiết (ví dụ để tuyển nhân viên và liên lạc với nhà cung cấp).
 
Cần phải cấm các chiến dịch giáo dục công cộng của ngành công nghiệp thuốc lá, như “chiến dịch phòng chống hút thuốc cho thanh thiếu niên” trên cơ sở là trong đó có bao gồm các khoản “đóng góp” nếu những chiến dịch đó do các bên khác thực hiện, hoặc đại diện cho sự quảng bá của công ty nếu là do chính ngành công nghiệp thuốc lá thực hiện.
 
Khuyến cáo
 
Các bên tham gia Công ước cần cấm các khoản đóng góp của các công ty thuốc lá cho bất kỳ một thực thể nào khác hay cho các “sự nghiệp trách nhiệm xã hội”, vì đóng góp như vậy là một hình thức tài trợ. Cũng phải cấm việc công khai hóa các thực hành kinh doanh có với danh nghĩa ‘trách nhiệm xã hội” của ngành công nghiệp thuốc lá vì những hoạt động đó hợp thành hoạt động quảng cáo và quảng bá.
 
Biểu đạt hợp pháp
 
Việc thực hiện lệnh cấm toàn diện hoạt động quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá không nên ngăn cấm việc thể hiện một cách hợp pháp của giới báo chí, nghệ thuật hay học thuật hoặc bình luận xã hội và chính trị hợp pháp. Ví dụ về những biểu đạt này bao gồm hình ảnh với nội dung liên quan tới thuốc lá một cách ngẫu nhiên, mô tả các nhân vật lịch sử hay thể hiện quan điểm về qui định hay chính sách. Tuy nhiên có thể cần có những cảnh báo hoặc công khai thông tin một cách thích hợp rằng không có tài trợ của thuốc lá cho sự xuất hiện các hình ảnh này.
 
Trong một số trường hợp các biểu đạt của giới báo chí, nghệ thuật hay học thuật hoặc bình luận xã hội và chính trị hợp pháp có thể chứa đựng những yếu tố không thể biện hộ được bằng những lý do biên tập, nghệ thuật, học thuật, xã hội hay chính trị và phải bị coi là quảng cáo, khuyến mại hay tài trợ hơn là nội dung báo chí, nghệ thuật hay học thuật chân thực hoặc bình luận xã hội và chính trị xác thực. Ví dụ rõ ràng việc trả tiền để sắp xếp đưa các sản phẩm hay hình ảnh thuốc lá vào chương trình truyền thông đại chúng vì những lý do thương mại, có liên quan đến thuốc lá là một trường hợp như vậy.
 
Khuyến cáo
 
Việc thực hiện lệnh cấm toàn diện các hoạt động quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá không cần thiết phải can thiệp vào các loại hình biểu đạt hợp pháp, như các biểu đạt của giới báo chí, nghệ thuật hay học thuật hoặc bình luận xã hội và chính trị hợp pháp. Tuy nhiên các bên tham gia Công ước cần có biện pháp ngăn ngừa việc sử dụng các biểu đạt báo chí, nghệ thuật hay học thuật hoặc bình luận xã hội và chính trị hợp pháp để quảng bá cho sử dụng thuốc lá hoặc sản phẩm thuốc lá.
 
Việc thể hiện thuốc lá trên các phương tiện truyền thông giải trí
 
Việc thể hiện thuốc lá trên các sản phẩm truyền thông giải trí, như phim ảnh, nhà hát và trò chơi, có thể có tác động mạnh mẽ tới việc sử dụng thuốc lá, nhất là đối với giới trẻ. Do đó các quốc gia tham gia Công ước cần áp dụng những biện pháp sau:
 
■    Áp dụng cơ chế yêu cầu mỗi khi có một sản phẩm truyền thông giải trí thể hiện sản phẩm thuốc lá, việc sử dụng thuốc lá hoặc hình tượng về thuốc lá thuộc bất kỳ loại nào, thì người quản lý chịu trách nhiệm về việc này ở mỗi công ty tham gia sản xuất, phân phối hay phát hành sản phẩm truyền thông giải trí đó phải chứng nhận là công ty không nhận một khoản tiền, quà tặng, quyền quảng cáo miễn phí, cho vay không tính lãi, sản phẩm thuốc lá, hỗ trợ quan hệ công chúng hay bất kỳ thứ có giá trị nào khác để thực hiện việc thể hiện hình ảnh thuốc lá đó.
■    Cấm miêu tả các nhãn hiệu hay hình ảnh nhãn hiệu thuốc lá có thể dễ dàng nhìn thấy được, và có có liên quan tới hay là một phần của bất kỳ sản phẩm truyền thông giải trí nào.
■    Yêu cầu trình bày những quảng cáo chống thuốc lá theo qui định trong phần mở đầu của mỗi sản phẩm truyền thông giải trí có thể hiện sản phẩm thuốc lá, việc sử dụng hay hình ảnh về thuốc lá.
■    Triển khai một hệ thống phân loại những sản phẩm truyền thông giải trí trong đó có tính đến nội dung thể hiện sản phẩm thuốc lá, việc sử dụng hình ảnh về thuốc lá (ví dụ phân loại phim thành loại dành riêng cho người lớn để hạn chế mức độ tiếp cận của trẻ vị thành niên) và để đảm bảo chắc chắn là các phương tiện truyền thông giải trí nhằm vào đối tượng trẻ em (kể cả phim hoạt hình) không thể hiện sản phẩm thuốc lá, việc sử dụng hay hình ảnh về thuốc lá.
 
Khuyến cáo
 
Các bên tham gia Công ước cần phải áp dụng những biện pháp cụ thể liên quan đến thể hiện sản phẩm thuốc lá trong các ấn phẩm truyền thông giải trí, bao gồm qui định yêu cầu chứng nhận rằng các công ty sản xuất những sản phẩm đó không nhận được bất cứ lợi ích nào cho bất kỳ việc thể hiện thuốc lá nào; cấm sử dụng các nhãn hiệu hay hình ảnh nhãn hiệu thuốc lá có thể dễ dàng nhận ra (trong các ấn phẩm nghệ thuật); yêu cầu phải có quảng cáo chống thuốc lá và áp dụng hệ thống phân loại với những sản phẩm truyền thông giải trí trong đó có tính đến nội dung thể hiện sản phẩm thuốc lá.
 
Thông tin liên lạc trong ngành thuốc lá
 
Thông thường có thể đạt được mục tiêu cấm triệt để quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá mà không cần cấm hoạt động thông tin liên lạc trong nội bộ ngành thuốc lá.
 
Bất kỳ ngoại lệ nào không phải theo qui định cấm triệt để quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá với mục đích cung cấp thông tin về sản phẩm cho những người hoạt động trong ngành thuốc lá cần phải được định nghĩa và áp dụng chặt chẽ. Việc tiếp cận những thông tin đó chỉ giới hạn trong những người đưa ra quyết định kinh doanh và những người cần có những thông tin này.
 
Bản tin của nhà sản xuất thuốc lá có thể được xếp là ngoại lệ, không thuộc đối tượng qui định cấm triệt để quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá, song chỉ trong trường hợp những bản tin đó chỉ dành riêng cho nhân viên, nhà thầu, nhà cung cấp và các đối tác kinh doanh của nhà sản xuất đó, và ở mức độ là bản tin chỉ được phân phát tới những tổ chức/cá nhân đó mà thôi.
 
Khuyến cáo
 
Bất kỳ ngoại lệ nào không phải theo qui định cấm triệt để quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá để thực hiện thông tin liên lạc trong nội bộ ngành thuốc lá đều phải được định nghĩa và áp dụng chặt chẽ.
 
Nguyên tắc hiến pháp liên quan đến qui định cấm triệt để
 
Theo qui định trong Điều 13 của Công ước, bất kỳ quốc gia tham gia Công ước nào mà hiến pháp hay nguyên tắc hiến pháp có những hạn chế đối với việc thực hiện qui định cấm triệt để quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá đều cần phải cân nhắc những hạn chế của nguyên tắc hiến pháp để áp dụng những qui định hạn chế càng triệt để càng tốt. Tất cả các bên tham gia Công ước có nghĩa vụ ban hành qui định cấm triệt để quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá trừ phi quốc gia đó “ở vào thế” không thực hiện được như vậy “do hiến pháp hay nguyên tắc hiến pháp [của họ] không cho phép”. Nghĩa vụ này cần được giải thích trong hoàn cảnh “việc thừa nhận một qui định cấm triệt để quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá sẽ giúp giảm bớt sự tiêu thụ thuốc lá”, và xét mục tiêu tổng thể của Công ước là “bảo vệ thế hệ hiện nay và các thế hệ tương lai khỏi những hậu quả tàn phá về sức khỏe, xã hội, môi trường và kinh tế do việc hút thuốc lá và hút thuốc thụ động gây ra” (Điều 3 của Công ước).
 
Chúng ta ghi nhận rằng vấn đề các nguyên tắc hiến pháp cần được điều chỉnh như thế nào cho phù hợp sẽ do hệ thống hiến pháp của mỗi quốc gia tham gia Công ước quyết định.
 
 Những nghĩa vụ liên quan đến Điều 13, khoản 3 của Công ước
 
Theo Điều 13, khoản 2 và 3 của Công ước, các bên tham gia Công ước có nghĩa vụ ban hành luật cấm triệt để quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá (hoặc cân nhắc những hạn chế của nguyên tắc hiến pháp để áp dụng những qui định hạn chế càng triệt để càng tốt). Một vài hình thức quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá có lẽ vẫn sẽ tiếp tục tồn tại ở những quốc gia chưa thực hiện nghĩa vụ của mình theo qui định trong Điều 13, khoản 2 và 3 của Công ước. Ngoài ra một số hình thức hạn chế của truyền đạt thông tin, giới thiệu hay hành động có tính thương mại liên quan cũng có thể tiếp tục tồn tại sau khi đã thi hành qui định cấm triệt để, và một vài hình thức quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá có thể vẫn tiếp tục duy trì ở những quốc gia mà qui định cấm triệt để không được hiến pháp hay nguyên tắc hiến pháp cho phép.
 
Bất kỳ hình thức quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá nào không bị cấm đều buộc phải tuân thủ các yêu cầu qui định trong Điều 14, khoản 4 của Công ước. Đặc biệt những yêu cầu đó bao gồm “cấm mọi hình thức quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá nhằm quảng bá cho một sản phẩm thuốc lá bằng bất cứ cách thức giả dối, sai lạc hay lừa dối nào hoặc có khả năng tạo ra ấn tượng không đúng về tính chất, tác động đối với sức khỏe, đe dọa hay tăng cường sức khỏe” (13.4 (a)); “yêu cầu mọi quảng cáo thuốc lá, cũng như khuyến mại và tài trợ thuốc lá nếu thích hợp,  phải kèm theo cảnh báo, thông điệp về sức khỏe hay những cảnh báo, thông điệp phù hợp khác” (13.4 (b)); và “nếu [bên tham gia Công ước] không có qui định cấm triệt để quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá, thì phải yêu cầu cung cấp cho các cơ quan chính phủ có thẩm quyền phù hợp thông tin về chi phí cho những hoạt động quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá chưa bị cấm của ngành công nghiệp thuốc lá (13.4 (d)).
 
Các bên tham gia Công ước cần phải cấm sử dụng bất kỳ thuật ngữ, ký hiệu, thương hiệu, biểu tượng, hình ảnh tiếp thị, lô-gô, màu sắc và ẩn dụ hay bất kỳ dấu hiệu nào khác7 có tác dụng quảng cáo, dù là trực tiếp hay gián tiếp, cho một sản phẩm thuốc lá hay cho sử dụng thuốc lá, bằng bất cứ cách thức giả dối, sai lạc hay lừa dối nào hoặc có khả năng tạo ra ấn tượng không đúng về tính chất, tác động đối với sức khỏe, đe dọa hay tăng cường sức khỏe, của một hay nhiều sản phẩm thuốc lá, hoặc về tác động đối với sức khỏe hay đe dọa sức khỏe của việc hút thuốc. Ngoài những nội dung khác, qui định cấm như vậy phải bao gồm việc cấm sử dụng những thuật ngữ “hàm lượng tar thấp”, “nhẹ”, “cực nhẹ”, “êm”, “vô cùng” “cực kỳ” và những thuật ngữ khác bằng bất cứ ngôn ngữ nào có thể gây hiểu lầm hay tạo ra ấn tượng sai lầm.8
 
Các bên tham gia Công ước nên cân nhắc việc qui định rằng bất kỳ quảng cáo thuốc lá, cũng như khuyến mại và tài trợ thuốc lá nào cũng phải kèm theo những cảnh báo và thông điệp về sức khỏe hay những cảnh báo khác ít nhất cũng phải nổi bật như nội dung quảng cáo, khuyến mại và tài trợ đó. Nội dung của những cảnh báo và thông điệp về sức khỏe kèm theo đó cần phải được cơ quan thích hợp qui định và phải truyền đạt hiệu quả nguy cơ sức khỏe và bản chất gây nghiện của việc hút thuốc lá, ngăn chặn việc sử dụng sản phẩm thuốc lá và làm tăng động cơ bỏ thuốc. Để tăng tối đa hiệu quả của chúng, những cảnh báo về sức khỏe hay thông điệp khác được các quốc gia thành viên yêu cầu trong Điều 14, khoản 4(b) của Công ước cần phải thống nhất với những cảnh báo hay thông điệp khác trên bao bì sản phẩm qui định trong Điều 11 của Công ước.
 
Các bên tham gia Công ước cần yêu cầu ngành công nghiệp thuốc lá phải công khai với các cơ quan chính phủ có thẩm quyền bất kỳ hoạt động quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá nào mà ngành này tham gia. Việc công khai thông tin đó phải được thực hiện định kỳ theo qui định của pháp luật và đáp ứng những yêu cầu cụ thể. Thông tin được công khai phải gồm, kể cả cho thông tin chung và thông tin theo nhãn hiệu, những nội dung sau:
 
■    loại hình quảng cáo, khuyến mại hay tài trợ, kể cả nội dung, hình thức và loại phương tiện thông tin đại chúng;
■    vị trí và độ dài hoặc tần suất quảng cáo, khuyến mại hay tài trợ;
■    danh tính của tất cả các tổ chức/cá nhân tham gia quảng cáo, khuyến mại hay tài trợ, kể cả các công ty quảng cáo và sản xuất.
■    trong trường hợp quảng cáo, khuyến mại hay tài trợ xuyên quốc gia xuất phát từ lãnh thổ của quốc gia thành viên, thì phải nêu (những) lãnh thổ sẽ hoặc có thể nhận sự quảng cáo, khuyến mại hay tài trợ đó; và
■    khoản tài chính hay các nguồn lực khác dùng cho quảng cáo, khuyến mại hay tài trợ;
 
Các bên tham gia Công ước cần đảm bảo luôn sẵn có những thông tin đó cho công chúng (ví dụ qua mạng Internet)9 đồng thời bảo đảm bảo vệ các bí mật thương mại.
 
Trong khi những nghĩa vụ qui định trong Điều 13, khoản 4(d) của Công ước về yêu cầu công khai chi phí của ngành công nghiệp thuốc lá cho những hoạt động quảng cáo, khuyến mại hay tài trợ là nhắm tới những nước mà theo hiến pháp họ không thể áp dụng cấm triệt để, thì tất cả các Bên đã cấm triệt để vẫn nên áp dụng các biện pháp khuyến cáo phù hợp với Điều 13, khoản 5 trong đó khuyến khích các Bên thực hiện thêm những biện pháp khác ngoài nghĩa vụ qui định trong Điều 13, khoản 4. Việc yêu cầu ngành công nghiệp thuốc lá công khai chi phí cho toàn bộ hoạt động quảng cáo, khuyến mại hay tài trợ thuốc lá có thể giúp các Bên đã áp dụng luật cấm triệt để xác định được bất kỳ hoạt động quảng cáo, khuyến mại hay tài trợ nào đó còn chưa bao gồm trong qui định cấm hoặc những hoạt động quảng cáo, khuyến mại hay tài trợ nào mà ngành công nghiệp thuốc lá tham gia là vi phạm qui định cấm. Yêu cầu công khai chi phí này có thể còn có thêm ích lợi là hạn chế ngành công nghiệp thuốc lá tham gia vào các hoạt động quảng cáo, khuyến mại hay tài trợ mà nhiều khả năng họ có thể tham gia nếu không có yêu cầu công khai chi phí.
 
Khuyến cáo
 
Các Bên cần phải thực hiện yêu cầu trong Điều 13, khoản 4 của Công ước về bất kỳ hình thức quảng cáo, khuyến mại hay tài trợ thuốc lá nào chưa bị cấm. Các Bên nên cấm mọi hình thức quảng bá cho sản phẩm thuốc lá bằng bất cứ cách thức nào mà giả dối, gây hiểu lầm, lừa dối hay có thể tạo ấn tượng sai lạc nào; nên bắt buộc phải có các cảnh báo hoặc các thông điệp về sức khỏe và các cảnh báo thích hợp khác; và yêu cầu ngành công nghiệp thuốc lá thường xuyên công khai với các cơ quan có thẩm quyền về hoạt động quảng cáo, khuyến mại hay tài trợ thuốc lá mà nó tham gia. Các Bên cũng cần đảm bảo những thông tin được công khai đó luôn có sẵn cho công chúng tham khảo.
 
TÍNH NHẤT QUÁN
 
Các qui định cấm trong nước và việc thi hành hiệu quả những qui định đó là cơ sở của bất kỳ một qui định cấm triệt để quảng cáo, khuyến mại hay tài trợ thuốc lá có ý nghĩa nào ở cấp quốc tế. Các diễn đàn thông tin đại chúng hiện nay, như mạng Internet, phim ảnh và truyền hình vệ tinh phát trực tiếp dễ dàng vượt qua biên giới, và nhiều hình thức quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá được điều chính theo qui định trong một quốc gia nào đó như tài trợ sự kiện, lại được phát sóng và phổ biến rộng rãi tới các quốc gia khác. Hơn nữa hoạt động quảng cáo và khuyến mại lại thường gắn với sản phẩm, như những mặt hàng quần áo và các thiết bị công nghệ, hoặc xuất hiện trong các ấn phẩm, và sau đó sẽ được dịch chuyển từ nước này sang nước khác cùng với các sản phẩm nói trên.
 
Rõ ràng là tính hiệu quả của các qui định cấm trong nước có thể bị phương hại nếu thiếu sự hợp tác quốc tế.
 
 Quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá xuyên biên giới xuất phát từ lãnh thổ của một quốc gia thành viên (thông tin phát đi)
 
Điều 13, khoản 2 của Công ước qui định “tùy theo môi trường pháp lý và phương tiện kỹ thuật sẵn có ở [mỗi] quốc gia tham gia Công ước, luật cấm triệt để phải bao gồm cấm triệt để các hình thức quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá xuyên biên giới bắt nguồn từ lãnh thổ của quốc gia đó.
 
Việc thực hiện các qui định cấm quảng cáo, khuyến mại hay tài trợ thuốc lá cần phải kiểm soát cả những ấn phẩm, các sản phẩm được in ấn hoặc được sản xuất trong lãnh thổ một quốc gia tham gia Công ước để xem liệu những tài liệu đó có hướng tới các đối tượng trong lãnh thổ quốc gia đó hoặc hướng tới các đối tượng của nước khác. Thường rất khó phân biệt giữa ấn phẩm hay sản phẩm hướng tới hay thực sự được sử dụng ở trong lãnh thổ quốc gia mà chúng được sản xuất và những ấn phẩm/sản phẩm hướng tới và sử dụng ở lãnh thổ nước khác.
 
Qui định cấm cũng nên áp dụng đối với hành động của một cá nhân hay tổ chức trong lãnh thổ một quốc gia thành viên đưa nội dung quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá lên mạng Internet hay một công nghệ thông tin qua biên giới, cho dù thông tin đó có hướng tới những đối tượng cư trú trong lãnh thổ quốc gia tham gia Công ước đó hay không.
 
Ngoài ra cũng cần áp dụng qui định cấm đối với bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào phát sóng thông tin quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá mà có thể bắt sóng được trong lãnh thổ của một nước khác.
 
Một lệnh cấm triệt để quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá bắt nguồn từ trong lãnh thổ của một quốc gia tham gia Công ước nên đảm bảo rằng công dân của quốc gia đó, bao gồm người bản địa hay công dân hợp pháp  - không được tham gia vào hoạt động quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá trong lãnh thổ của quốc gia khác, cho dù thông tin đó có được nhập lại vào lãnh thổ của nước mà nó được tạo ra hay không.
 
 
Quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá qua biên giới du nhập vào nội địa của một quốc gia thành viên
 
Điều 13, khoản 7 của Công ước qui định “Các Bên đã có qui định cấm những hình thức nhất định của việc quảng cáo, khuyến mại hay tài trợ thuốc lá có quyền cấm không cho những hình thức quảng cáo, khuyến mại hay tài trợ thuốc lá qua biên giới du nhập vào lãnh thổ của mình và áp dụng các hình thức xử phạt tương tự như đối với hoạt động quảng cáo, khuyến mại hay tài trợ thuốc lá trong nước và xuất phát từ lãnh thổ của mình, theo qui định của pháp luật.”
 
Khi triển khai qui định cấm quảng cáo, khuyến mại hay tài trợ thuốc lá nên kiểm soát cả những ấn phẩm và sản phẩm in ấn hay sản xuất ở các quốc gia khác du nhập vào lãnh thổ của một quốc gia tham gia Công ước hay nhằm vào công dân trong lãnh thổ đó. Các quốc gia tham gia Công ước cần cân nhắc khả năng thực hiện kiểm tra mẫu đối với hàng hóa ký gửi nhập khẩu là ấn phẩm. Nếu những sách báo đó do các công dân của một quốc gia tham gia Công ước hay những tổ chức/cá nhân có trụ sở trong lãnh thổ một quốc gia tham gia Công ước in, xuất bản hay phát hành, những tổ chức/cá nhân đó phải chịu trách nhiệm và qui định cấm sẽ được áp dụng với mức độ cao nhất có thể10. Qui định cấm cũng được áp dụng cho tất cả nội dung trên mạng Internet có thể truy cập trong lãnh thổ một quốc gia tham gia Công ước và cho bất kỳ thông tin nghe, nhìn hay nghe nhìn phát sóng sang một quốc gia tham gia Công ước hoặc tiếp sóng được trong lãnh thổ một quốc gia tham gia Công ước, cho dù đối tượng mà những thông tin đó hướng tới có ở trong lãnh thổ quốc gia đó hay không.
 
Khuyến cáo
 
Các quốc gia tham gia Công ước đã có qui định cấm triệt để các hoạt động quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá cần đảm bảo rằng bất kỳ hoạt động quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá qua biên giới nào xuất phát từ trong nước họ đều bị cấm hay hạn chế tương tự như đối với hoạt động quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá trong nước. Các quốc gia tham gia Công ước cần sử dụng chủ quyền của mình để có những hành động hiệu quả nhằm hạn chế hoặc ngăn chặn không cho bất kỳ hoạt động quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá qua biên giới nào du nhập được vào lãnh thổ của mình, cho dù hoạt động đó bắt nguồn từ những quốc gia tham gia Công ước đã ban hành qui định hạn chế hay từ những nước không tham gia Công ước, xác định là trong một số trường hợp  những hành động hiệu quả có thể cần phải được qui định trong một thỏa thuận.
 
 
NHỮNG TỔ CHỨC/CÁ NHÂN CÓ TRÁCH NHIỆM
 
Những tổ chức, cá nhân có trách nhiệm cần được định nghĩa rộng rãi, bao gồm toàn bộ chuỗi tiếp thị. Trách nhiệm đầu tiên là của người khởi xướng việc quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá, thường là nhà sản xuất, nhà phân phối sỉ, nhà nhập khẩu, cơ sở bán lẻ cùng các đại lý và chi nhánh của họ.
 
Ngoài ra còn nhiều cá nhân, tổ chức khác tham gia vào quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá và tất cả những đối tượng đó đều phải có trách nhiệm.
 
Trách nhiệm không thể được qui đều cho mọi các nhân/tổ chức vì họ tham gia vào quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá với những mức độ khác nhau. Trong trường hợp tài trợ thuốc lá, các cá nhân/tổ chức có trách nhiệm là những người có bất kỳ hình thức đóng góp liên quan nào hay những người nhận được bất kỳ hình thức đóng góp liên quan nào và những người trung gian tạo điều kiện cho việc đóng góp hoặc nhận đóng góp đó. Khi hoạt động quảng cáo, khuyến mại và tài trợ có bao gồm thông tin liên lạc, thì cách xác định trách nhiệm của cá nhân/tổ chức sẽ tùy thuộc vào vai trò của họ trong quá trình soạn thảo và phổ biến nội dung thông tin và khả năng kiểm soát quá trình đó của họ. Người phổ biến thông tin quảng cáo/khuyến mại phải chịu trách nhiệm trong chừng mực họ nhận thức được, hay ở địa vị có thể nhận thức được nội dung của quảng cáo và khuyến mại. Qui định này đúng với bất kỳ công nghệ truyền thông hay thông tin liên lạc nào được sử dụng, nhưng đặc biệt áp dụng cho việc kiểm soát nội dung truyền bá trên mạng Internet và phổ biến qua vệ tinh truyền tin trực tiếp.
 
Về các hình thức truyền thông và thông tin liên lạc
 
■    Cần qui định cấm các cá nhân/tổ chức sản xuất hay phát hành nội dung (ví dụ các công ty quảng cáo, nhà thiết kế hay sản xuất báo chí và các dạng ấn phẩm khác, cơ quan phát thanh truyền hình và nhà sản xuất phim, chương trình truyền thanh truyền hình, trò chơi và biểu diễn trực tiếp, mạng Internet, điện thoại di động, vệ tinh và nhà sản xuất nội dung trò chơi) không được đưa quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá vào những sản phẩm truyền thông đó.
■    Cần qui định cấm các cá nhân/tổ chức như phương tiện truyền thông hay nhà tổ chức các sự kiện, vận động viên, những người nổi tiếng, ngôi sao màn bạc và nghệ sĩ không được tham gia quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá.
■    Cần áp dụng những qui định bắt buộc (như không cho hoặc hủy khả năng tiếp cận nội dung thông tin) đối với các cá nhân/tổ chức tham gia hoạt động báo chí hay các phương tiện truyền thông liên lạc và kỹ thuật số (như các trang web mạng lưới xã hội, các nhà cung cấp dịch vụ Internet và công ty viễn thông) khi họ đã được biết về quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá.
 
Trong trường hợp đó là những tổ chức hợp pháp, trách nhiệm thường thuộc về công ty, chứ không phải là của cá nhân người lao động.
 
Phải hủy bỏ hiệu lực của hợp đồng, thỏa thuận hay dàn xếp quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá nếu thỏa thuận đó vi phạm qui định cấm triệt để quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá.
 
Chẳng hạn trong lĩnh vực liên quan đến mạng Internet có qui định về 05 loại hình cá nhân/tổ chức phải chịu trách nhiệm mà qui định cấm hay những nghĩa vụ cụ thể cần được áp dụng như sau:
 
■    Người sản xuất nội dung là người tạo ra nội dung hay chịu trách nhiệm về việc đó, bao gồm công ty thuốc lá, hãng quảng cáo và nhà sản xuất chương trình truyền hình, phim và trò chơi trực tuyến. Cần phải cấm người sản xuất nội dung không được đưa quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá vào nội dung mà họ sản xuất.
■    Người xuất bản nội dung bao gồm nhà sản xuất và những cá nhân/tổ chức lựa chọn nội dung trước khi phổ biến cho người sử dụng Internet (ví dụ trang web của các tờ báo hay tổ chức truyền thông). Cần phải cấm người xuất bản nội dung không được đưa quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá vào nội dung mà họ phổ biến.
■    Người quản lý nội dung là những cá nhân/tổ chức kiểm soát máy chủ kết nối mạng Internet, trong đó lưu giữ nội dung; họ gồm những cá nhân/tổ chức kết hợp các nội dung do người khác thực hiện mà không lựa chọn trước khi đưa tới cho người sử dụng Internet (như các trang web mạng lưới xã hội). Người quản lý nội dung có nghĩa vụ phải loại bỏ hoặc vô hiệu hóa việc tiếp cận thông tin quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá nếu đã được biết về nội dung của thông tin đó.
■    Người hướng dẫn nội dung là những cá nhân/tổ chức, ví dụ như các công cụ tìm kiếm Internet hỗ trợ người sử dụng dịch vụ truyền thông xác định nội dung. Người hướng dẫn nội dung có nghĩa vụ phải loại bỏ việc tiếp cận thông tin quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá nếu đã được biết về nội dung của thông tin đó.
■    Nhà cung cấp tiếp cận thông tin là những cá nhân/tổ chức cung cấp tiếp cận dịch vụ thông tin truyền thông cho người trực tiếp sử dụng, như các nhà cung cấp dịch vụ Internet và công ty điện thoại di động. Nhà cung cấp tiếp cận thông tin có nghĩa vụ phải loại bỏ việc tiếp cận thông tin quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá nếu đã được biết về nội dung của thông tin đó.
 
Khác với những nghĩa vụ qui định cho người sản xuất nội dung, người xuất bản nội dung và người quản lý nội dung, các quốc gia tham gia Công ước có thể hạn chế những nghĩa vụ áp dụng cho người hướng dẫn nội dung và nhà cung cấp tiếp cận thông tin, buộc họ phải cân nhắc khả năng công nghệ cho phép để có nỗ lực hợp lý loại bỏ tiếp cận thông tin.
 
Khuyến cáo
 
Cần định nghĩa rộng rãi thế nào là cá nhân/tổ chức chịu trách nhiệm về quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá, và cách họ phải chịu trách nhiệm phải tùy thuộc vào vai trò của họ trong những hoạt động đó.
 
Trách nhiệm hàng đầu thuộc về người khởi xướng quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá, thường là nhà sản xuất thuốc lá, nhà phân phối bán sỉ, nhà nhập khẩu, cơ sở bán lẻ cùng các đại lý và chi nhánh của họ.
 
Cần phải cấm các cá nhân/tổ chức sản xuất hay phát hành nội dung truyền thông đại chúng không được đưa quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá vào nội dung đó.
 
Cần phải cấm các cá nhân/tổ chức (như nhà tổ chức các sự kiện, vận động viên và những người nổi tiếng) không được tham gia quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá.
 
Cần áp dụng những qui định nghĩa vụ cụ thể, như loại bỏ nội dung chẳng hạn, đối với các cá nhân/tổ chức tham gia các phương tiện báo chí hay truyền thông kỹ thuật số khi họ đã được biết về quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá.
 
 
 
THI HÀNH LUẬT CẤM QUẢNG CÁO, KHUYẾN MẠI VÀ TÀI TRỢ THUỐC LÁ TRONG NƯỚC
 
 
Các chế tài xử phạt
 
Các bên tham gia Công ước cần ban hành và áp dụng các hình thức xử phạt hợp lý và có tác dụng ngăn ngừa (gồm phạt tiền, các biện pháp buộc thay đổi nội dung quảng cáo và đình chỉ hay thu hồi giấy phép kinh doanh). Để những hình thức xử phạt đó trở thành những biện pháp ngăn chặn có hiệu lực, chúng phải được phân loại và tương xứng với tính chất và mức độ nghiêm trọng của vi phạm, gồm vi phạm lần đầu, và cần cao hơn lợi ích kinh tế có thể thu được từ quảng cáo, khuyến mại hoặc tài trợ.
 
Nhà sản xuất hay cá nhân/tổ chức chịu trách nhiệm phải bị xử phạt nặng nếu tái vi phạm. Trong trường hợp vi phạm thường xuyên hay trắng trợn, cần áp dụng những chế tài xử phạt nghiêm khắc hơn, có thể cả phạt tù. Các chế tài xử phạt cũng cần bao gồm cả nghĩa vụ sửa chữa vi phạm, ví dụ như:
 
■    Dỡ bỏ quảng cáo, khuyến mại hay tài trợ thuốc lá;
■    công bố phán quyết của tòa án theo cách tòa qui định, chi phí do bên mà tòa chỉ định phải chịu; và
■    cấp kinh phí cho việc sửa đổi hay quảng cáo ngược lại.
 
Cần áp dụng chế tài xử phạt đối với sản phẩm của tổ chức chứ không chỉ riêng cho các cá nhân (kế cả các thành viên của tổ chức có thể phải chịu trách nhiệm về hành vi của những tổ chức thành viên có liên quan ở ngoài lãnh thổ quốc
 

 
gia nhưng có ảnh hưởng trong lãnh thổ đó). Cũng cần áp dụng chế tài xử phạt đối với hành vi của các cán bộ quản lý, giám đốc, quan chức và/hoặc đại diện hợp pháp của các tập đoàn công ty nếu những cá nhân đó chịu trách nhiệm về hành động của tập đoàn.
 
Việc cấp giấy phép cho nhà sản xuất thuốc lá, nhà phân phối bán sỉ, nhà nhập khẩu và cơ sở bán lẻ có thể là một phương pháp hiệu quả để kiểm soát quảng cáo, khuyến mại hay tài trợ thuốc lá. Chỉ cấp hoặc gia hạn giấy phép kinh doanh nếu cơ sở đăng ký xin giấy phép có thể đảm bảo tuân thủ qui định của pháp luật. Trong những trường hợp cơ sở không tuân thủ qui định, có thể thu hồi giấy phép một thời gian hoặc đình chỉ. Khi cần cấp phép cho những tổ chức/cá nhân có trách nhiệm không tham gia trực tiếp vào sản xuất hay phân phối thuốc lá (như các tổ chức truyền thông chẳng hạn), phải bao gồm qui định tuân thủ các điều khoản về quảng cáo, khuyến mại hay tài trợ thuốc lá vào điều kiện để được cấp phép, gia hạn, đình chỉ hay hủy hỏ giấy phép.
 
Nếu đã có áp dụng chế tài xử phạt để ngăn chặn quảng cáo, khuyến mại hay tài trợ thuốc lá, cơ quan thi hành qui định cấm có thể thành công trong việc loại trừ những thủ đoạn trái pháp luật mà không cần thủ tục tòa án (ví dụ thông qua gặp gỡ, họp, cảnh cáo, quyết định hành chính và các khoản nộp phạt định kỳ).
 
 
Giám sát, thi hành và tiếp cận luật pháp
 
Các bên tham gia Công ước cần phân công một cơ quan có năng lực, độc lập chịu trách nhiệm giám sát và thi hành luật và trao cho cơ quan đó quyền và nguồn lực cần thiết. Cơ quan này cần có quyền điều tra các khiếu nại, tịch thu những quảng cáo hay khuyến mại bất hợp pháp, và đưa ra khiếu nại tố cáo và/ hoặc khởi xướng những thủ tục pháp lý thích hợp.
 
Xã hội dân sự và công dân cần tham gia vào công tác giám sát và thi hành hiệu quả lệnh cấm quảng cáo, khuyến mại hay tài trợ thuốc lá. Các tổ chức xã hội dân sự, nhất là những cá nhân/tổ chức như y tế công cộng, tổ chức chăm sóc y tế, dự phòng, bảo vệ thanh thiếu niên hay người tiêu dùng có thể thực hiện giám sát chặt chẽ, và trong luật cần nêu rõ là thành viên của công chúng có thể khởi xướng khiếu nại tố cáo.
 
Ngoài ra cũng cần phải có sẵn các lựa chọn luật dân sự để chống lại hoạt động quảng cáo, khuyến mại hay tài trợ thuốc lá. Luật pháp quốc gia cần cho phép bất kỳ cá nhân hay tổ chức phi chính phủ nào quan tâm được khởi xướng các hành động hợp pháp chống lại quảng cáo, khuyến mại hay tài trợ thuốc lá.
 
Chương trình thi hành luật có thể bao gồm một đường dây nóng miễn phí cho khiếu nại tố cáo và một trang web hoặc một hệ thống tương tự để khuyến khích công chúng tố cáo những vi phạm.
 
 
 
Khuyến cáo
 
Các quốc gia tham gia Công ước cần ban hành và áp dụng các hình thức xử phạt hợp lý và có tác dụng ngăn ngừa. Các quốc gia tham gia Công ước cần phân công một cơ quan có năng lực, độc lập chịu trách nhiệm giám sát và thi hành luật và trao cho cơ quan đó quyền và nguồn lực cần thiết. Xã hội dân sự cần tham gia giám sát và thi hành hiệu quả luật cấm quảng cáo, khuyến mại hay tài trợ thuốc lá và được tiếp cận luật pháp.
 
 
 
GIÁO DỤC CÔNG CHÚNG VÀ NÂNG CAO NHẬN THỨC CỘNG ĐỒNG
 
Theo tinh thần của Điều 12 trong Công ước11, các Bên cần sử dụng mọi công cụ truyền thông sẵn có để thúc đẩy và củng cố nhận thức của công chúng về quảng cáo, khuyến mại hay tài trợ thuốc lá trong mọi lĩnh vực của xã hội. Ngoài những khuyến cáo nêu trên, các Bên cần thông qua những biện pháp thích hợp để thúc đẩy tiếp cận rộng rãi các chương trình giáo dục và nâng cao nhận thức công chúng toàn diện, hiệu quả để nhấn mạnh tầm quan trọng của lệnh cấm triệt để, giáo dục công chúng về sự cần thiết của lệnh cấm đó và giải thích vì sao cần cấm toàn diện các hoạt động quảng cáo, khuyến mại và tài trợ của ngành công nghiệp thuốc lá.
 
Động viên sự hỗ trợ của cộng đồng trong giám sát mức độ tuân thủ luật và báo cáo hành vi vi phạm luật chống quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá là một thành phần quan trọng của thi hành luật. Để giúp các thành viên của cộng đồng thực hiện vai trò này, họ phải được biết về vấn đề và hiểu luật cũng như cách xử lý các hành vi vi phạm.
 
Các bên tham gia Công ước cần triển khai các chương trình giáo dục và nâng cao nhận thức công chúng, thông báo cho thành viên cộng đồng về luật cấm quảng cáo, khuyến mại hay tài trợ thuốc lá hiện hành, về những bước cần thực hiện để thông báo cho cơ quan chính phủ có thẩm quyền về bất kỳ hoạt động quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá nào, và những bước có thể thực hiện chống lại người vi pham luật pháp, tham gia quảng cáo, khuyến mại hay tài trợ thuốc lá.
 
Khuyến cáo
 
Các quốc gia tham gia Công ước cần thúc đẩy và củng cố, trong mọi lĩnh vực của xã hội, nhận thức của công chúng về sự cần thiết phải loại bỏ quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá, về luật kiểm soát những hoạt động đó và cách mà thành viên của cộng đồng có thể hành động khi phát hiện vi phạm.
 
 
HỢP TÁC QUỐC TẾ
 
Hiệu quả của những nỗ lực loại bỏ quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá tùy thuộc vào không chỉ những sáng kiến do cá nhân các quốc gia tham gia Công ước thực hiện, mà còn vào mức độ hợp tác của các quốc gia thành viên để giải quyết vấn đề quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá. Sự hợp tác quốc tế hiệu quả sẽ có vai trò cốt yếu trong nỗ lực loại bỏ quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá cả trong nước và qua biên giới.
 
Các quốc gia tham gia Công ước đã thực hiện cam kết liên quan đến vấn đề hợp tác quốc tế, trong đó có cam kết theo Điều 13, khoản 6 (Hợp tác trong xây dựng công nghệ và các phương tiện cần thiết khác để tạo điều kiện loại bỏ quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá qua biên giới); Điều 19 (nghĩa vụ pháp lý); Điều 20 (Nghiên cứu, giám sát và trao đổi thông tin); nhất là Điều
20, khoản 4 (Trao đổi thông tin khoa học, kỹ thuật, kinh tế xã hội, thương mại và luật pháp công khai sẵn có, cũng như thông tin về cung cách hoạt động của ngành công nghiệp thuốc lá); Điều 21 (Báo cáo và trao đổi thông tin); Điều
22 (Hợp tác trong lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và luật pháp và cung cấp hiểu biết chuyên môn liên quan); và Điều 26 (Nguồn tài chính).
 
Ngoài những khuyến cáo đưa ra trong tài liệu hướng dẫn này, Hội nghị các Quốc gia tham gia Công ước cũng ghi nhận đề xuất của Nhóm công tác về những biện pháp khác liên quan đến việc tăng cường trao đổi thông tin và những hợp tác khác giữa các quốc gia tham gia Công ước để góp phần triệt bỏ quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá qua biên giới12. Những biện pháp loại bỏ quảng cáo, khuyến mại hay tài trợ thuốc lá trong nước cũng rất có ích, bởi vì các quốc gia tham gia Công ước có thể có lợi từ việc chia sẻ thông tin, kinh nghiệm và hiểu biết chuyên môn về tất cả các hình thức quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá, chứ không chỉ về quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá qua biên giới.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Danh sách tượng trưng (chưa đầy đủ) các hình thức quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá trong các điều khoản của Công ước
 
■    truyền đạt thông qua các phương tiện nghe, nhìn hay nghe nhìn: sách báo (kể cả báo, tạp chí, sách nhỏ, tờ rơi, thư, pa-nô, áp phích quảng cáo, biển hiệu), phát thanh và truyền hình (kể cả phát trên mặt đất và phát qua vệ tinh), phim ảnh, đĩa DVD, băng video và đĩa CD, trò chơi (trò chơi điện tử, băng hình hay trực tuyến), các diễn đàn truyền thông kỹ thuật số khác (bao gồm mạng Internet và điện thoại di động) và rạp hát hay các buổi biểu diễn trực tiếp;
■    Thể hiện các dấu hiệu liên quan đến nhãn hiệu, kể cả ở các địa điểm giải trí và điểm bán lẻ hay trên xe cộ và thiết bị (ví dụ bằng cách sử dụng màu sắc hay phối hợp màu sắc của nhãn hiệu, lô-gô hay thương hiệu);
■    trưng bày sản phẩm thuốc lá ở điểm kinh doanh;
■    máy bán thuốc lá tự động;
■    bán sản phẩm thuốc lá trên mạng Internet;
■    liên kết hay chia sẻ nhãn hiệu (đa dạng hóa sản phẩm);
■    Lồng ghép sản phẩm (tức là đưa hay nhắc đến một sản phẩm, dịch vụ hay thương hiệu thuốc lá vào các ngữ cảnh trong các sản phẩm truyền thông (xem ở trên), để đổi lấy một khoản chi phí hay những lợi ích khác);
■    tặng quà hay sản phẩm giảm giá khi mua sản phẩm thuốc lá (ví dụ dây đeo chìa khóa, áo phông, mũ bóng chày, bật lửa);
■    phát miễn phí hàng mẫu sản phẩm thuốc lá, kể cả kết hợp với điều tra tiếp thị và việc thử nghiệm về thị hiếu tiêu dùng;
■    các chương trình khuyến mại có thưởng hay khách hàng thân thiết, ví dụ tặng phiếu mua hàng khi mua sản phẩm thuốc lá;
■    các cuộc thi có liên tưởng tới sản phẩm hay thương hiệu thuốc lá, cho dù có yêu cầu mua sản phẩm thuốc lá hoặc không;
■    gủi trực tiếp cho các cá nhân các vật phẩm có tính chất quảng bá (kể cả thông tin), như gửi thư trực tiếp, tiếp thị từ xa, “khảo sát người tiêu dùng” hay “nghiên cứu”;
■    Khuyến mại hạ giá sản phẩm;
■    bán hay cung cấp đồ chơi hay kẹo có hình dáng mô phỏng sản phẩm thuốc lá;
■    những khoản thanh toán hay đóng góp khác cho nhà bán lẻ để khuyến khích hoặc buộc họ phải bán sản phẩm, kể cả những chương trình
Trang inGửi bạn bè Chia sẻ trên facebook  Chia sẻ trên twitterThảo luậnXem thảo luận
Thông tin khác:
Thiết kế web: OnIP™