CÔNG ƯỚC KHUNGBIỆN PHÁP

Phần III: Các biện pháp giảm cầu thuốc lá

Điều 6: Các biện pháp về giá và thuế để giảm cầu thuốc lá

1. Các Bên nhận thức rằng các biện pháp về giá và thuế là những biện pháp quan trọng và hữu hiệu để giảm tiêu thụ thuốc lá trong các tầng lớp dân cư, đặc biệt là thanh thiếu niên.

2. Để không tổn hại đến chủ quyền của các Bên trong việc xác định và hình thành  chính sách thuế của mình,  mỗi Bên cần cân nhắc đến các mục tiêu y tế quốc gia trong việc kiểm soát thuốc lá và thông qua hoặc duy trì, ở mức phù hợp, các biện pháp bao gồm:

(a) Thực hiện các chính sách thuế, và ở những nơi phù hợp, các chính sách về giá đối với các sản phẩm thuốc lá để đóng góp cho các mục tiêu y tế nhằm giảm tiêu thụ thuốc lá; và

(b) cấm hoặc hạn chế, ở mức thích hợp, việc bán và/hoặc nhập khẩu các sản phẩm thuốc lá miễn thuế hoặc không thuế bởi du khách quốc tế.

3. Các Bên sẽ cung cấp các mức thuế  đối với  các sản phẩm thuốc lá và xu hướng tiêu thụ thuốc lá trong các báo cáo định kỳ cho Hội nghị  các Bên theo Điều 21.

Điều 7: Các biện pháp phi giá để giảm cầu thuốc lá

Các Bên nhận thức rằng các biện pháp phi giá toàn diện là các biện pháp quan trọng và hữu hiệu để giảm tiêu thụ thuốc lá. Mỗi Bên sẽ thông qua và thực thi các biện pháp lập pháp, hành pháp, hành chính hữu hiệu hoặc  các biện pháp cần thiết khác để thực hiện các nghĩa vụ của mình theo Điều 8 đến Điều 13, và sẽ phối hợp với nhau, ở mức thích hợp,  một cách trực tiếp hoặc thông qua các cơ quan quốc tế có năng lực để thực hiện các biện pháp này. Hội nghị các Bên sẽ đề xuất các hướng dẫn phù hợp để thực hiện các điều khoản qui định trong các Điều này.

Điều 8: Bảo vệ  khỏi việc phơi nhiễm với khói thuốc lá

1. Các Bên nhận thức rõ rằng các bằng chứng khoa học đã chứng minh rõ ràng rằng việc phơi nhiễm với khói thuốc lá là nguyên nhân gây tử vong, bệnh tật và tàn tật.

2. Mỗi Bên sẽ thông qua và thi hành trong phạm vi các quyền tài phán quốc gia hiện hành được xác định bởi luật pháp quốc gia và tích cực thúc đẩy tại các cấp độ tài phán khác việc thông qua và thi hành các biện pháp, lập pháp, hành pháp, hành chính hữu hiệu   và/ hoặc các biện pháp khác nhằm bảo vệ khỏi việc phơi nhiễm với khói thuốc lá ở những nơi làm việc trong nhà, các phương tiện giao thông công cộng, những nơi công cộng trong nhà và ở mức thích hợp, tại những nơi công cộng khác. 

Điều 9: Qui định về hàm lượng của các sản phẩm thuốc lá

Hội nghị các Bên với sự tham vấn của các tổ chức quốc tế có thẩm quyền sẽ đề xuất các hướng dẫn cho việc thử và đo hàm lượng và khói toả ra từ các sản phẩm thuốc lá và để  qui định về hàm lượng và sự toả khói này. Mỗi Bên, ở những nơi được các nhà chức trách quốc gia có thẩm quyền chấp thuận, sẽ thông qua và thi hành các biện pháp lập pháp, hành pháp, hành chính hữu hiệu hoặc các biện  pháp khác đối với việc thử và đo lường và các quy định như vậy.

Điều 10: Qui định về việc tiết lộ các thông tin về sản phẩm thuốc lá

Mỗi Bên, tuỳ theo luật pháp quốc gia, sẽ thông qua và thi hành các biện pháp lập pháp, hành pháp và hành chính hữu hiệu hoặc các biện pháp khác yêu cầu các nhà sản xuất và nhập khẩu các sản phẩm thuốc lá phải tiết lộ cho các cơ quan có thẩm quyền của chính phủ các thông tin về hàm lượng và sự toả khói của sản phẩm thuốc lá. Ngoài ra mỗi Bên sẽ thông qua và thi hành các biện pháp có hiệu quả để thông tin cho công chúng biết về các thành phần độc hại có trong các sản phẩm thuốc lá và khói thuốc lá.

Điều 11: Đóng gói và gắn nhãn mác của các sản phẩm thuốc lá

1. Mỗi Bên, trong phạm vi 3 năm sau khi Công ước có hiệu lực đối với Bên đó, sẽ thông qua và thi hành, phù hợp với luật pháp quốc gia, các biện pháp có hiệu quả để đảm bảo rằng:

(a) Việc đóng gói và gắn nhãn mác của các sản phẩm thuốc lá không nhằm khuyến mãi một sản phẩm thuốc lá bằng các cách thức gian dối, sai lạc, lừa bịp hoặc  hoặc có thể tạo ra một ấn tượng sai lầm về tính chất, tác động đối với sức khoẻ, tác hại hoặc việc toả khói thuốc, bao gồm bất cứ thuật ngữ, vật mô tả, thương hiệu, từ ngữ bóng bẩy hoặc bất cứ dấu hiệu nào trực tiếp hoặc gián tiếp tạo ra ấn tượng sai về một sản phẩm thuốc lá nào đó ít có hại hơn các sản phẩm thuốc lá khác. Những thứ này  có thể bao gồm các thuật ngữ như: “ít hắc ín”,“nhẹ”, “siêu nhẹ”; và

(b) Mỗi bao thuốc lá và mỗi gói các sản phẩm thuốc lá và bất kỳ bao bì và nhãn mác bên ngoài nào của những sản phẩm như vậy đều phải có những lời cảnh báo về sức khoẻ mô tả tác hại của việc sử dụng thuốc lá và có thể bao gồm các thông điệp thích hợp khác.  Những lời cảnh báo và các thông điệp này:

i)         phải được sự phê chuẩn của các nhà chức trách quốc gia có thẩm quyền,

ii)        phải được sử dụng luân phiên,

iii)      phải đủ lớn, rõ ràng, dễ nhìn và dễ đọc.

iv)      phải chiếm 50% hoặc lớn hơn diện tích trưng bày chính nhưng không được nhỏ hơn 30% của các diện tích trưng bày chính của bao thuốc.

v)       có thể dưới hình thức của hoặc bao gồm các hình ảnh hoặc chữ tượng hình.

2. Mỗi bao thuốc lá và mỗi gói các sản phẩm thuốc lá và bất kỳ bao bì và nhãn mác bên ngoài của những sản phẩm như vậy, ngoài các lời cảnh báo cụ thể nêu trong điểm 1(b) của điều khoản này sẽ phải có những thông tin về thành phần các chất có trong thuốc lá và khói thuốc lá được xác định bởi các nhà chức trách quốc gia.

3. Các Bên sẽ yêu cầu rằng những lời cảnh báo và các thông tin bằng văn bản nêu rõ trong các đoạn 1(b) và đoạn 2 của Điều này sẽ xuất hiện trên mỗi bao thuốc và mỗi gói  sản phẩm thuốc lá và bất kỳ bao bì và nhãn mác bên ngoài của những sản phẩm như vậy bằng ngôn ngữ  hoặc các ngôn ngữ chính của quốc gia đó.

4. Vì các mục đích của Điều khoản này, thuật ngữ “đóng gói và nhãn mác bên ngoài” liên quan đến các sản phẩm thuốc lá được áp dụng cho bất kỳ việc đóng gói và nhãn mác nào dùng trong bán lẻ sản phẩm.

Điều 12: Giáo dục, truyền thông, đào tạo và  nhận thức của công chúng

Mỗi Bên sẽ tăng cường và củng cố nhận thức của công chúng về các vấn đề liên quan đến kiểm soát thuốc lá bằng cách sử dụng tất cả các phương tiện truyền thông sẵn có, ở mức thích hợp. Để đạt được mục đích này,  mỗi Bên sẽ thông qua và thi hành các biện pháp lập pháp, hành pháp, hành chính hữu hiệu hoặc các biện pháp khác nhằm thúc đẩy:

(a)        sự tiếp cận rộng rãi với các chương trình giáo dục và nâng cao nhận thức của công chúng hiệu quả và toàn diện về  các nguy cơ về sức khoẻ bao gồm những đặc tính gây nghiện của việc tiêu thụ thuốc lá và phơi nhiễm với khói thuốc lá;

(b)       nhận thức của công chúng về các nguy cơ đối với sức khoẻ của việc tiêu thụ thuốc lá và phơi nhiễm với khói thuốc lá và về những lợi ích của việc cai nghiện thuốc lá và lối sống không thuốc lá như được quy định trong điều 14.2;

(c) sự tiếp cận của công chúng, phù hợp với luật pháp quốc gia,  với các thông tin rộng rãi về ngành công nghiệp thuốc lá phù hợp với mục tiêu của Công ước này;

(d)  các chương trình đào tạo hiệu quả và phù hợp hoặc các chương trình tạo sự nhậy cảm hoặc nâng cao nhận thức về kiểm soát thuốc lá cho đối tượng là cán bộ y tế, nhân viên cộng đồng, nhân viên làm công tác xã hội, những người làm công tác truyền thông, giáo viên, các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý và những người có liên quan khác.

(e)   nhận thức và sự tham gia của công chúng và các tổ chức tư nhân và các tổ chức phi chính phủ không gắn kết với các công ty thuốc lá trong việc phát triển và thực hiện các chiến lược và các chương trình liên ngành về kiểm soát thuốc lá.

(f)   nhận thức của công chúng về và sự tiếp cận với các thông tin về các hậu quả có hại đối với sức khoẻ, kinh tế và môi trường của việc sản xuất và tiêu thụ thuốc lá.

Điều 13: Quảng cáo, khuyến mãi  và tài  trợ thuốc lá

1. Các Bên nhận thức rằng cấm toàn diện đối với quảng cáo, khuyến mãi và tài trợ sẽ làm giảm tiêu thụ các sản phẩm thuốc lá.

2. Mỗi Bên, tuỳ theo hiến pháp và các quy định của hiến pháp của nước mình, sẽ đảm nhận việc cấm toàn diện mọi quảng cáo, khuyến mãi và tài trợ thuốc lá. Điều này sẽ bao gồm, tuỳ thuộc vào môi trường pháp lý và các phương tiện kỹ thuật sẵn có của Bên đó, các hạn chế hoặc một sự cấm toàn diện việc quảng cáo, khuyến mãi và tài trợ xuyên biên giới xuất phát từ lãnh thổ của mình. Liên quan đến vấn đề này, trong vòng 5 năm sau khi Công ước này có hiệu lực đối với Bên đó, mỗi Bên sẽ đảm nhận  tiến hành các hoạt động lập pháp, hành pháp và hành chính phù hợp và/hoặc báo cáo kết quả theo quy định tại Điều 21.

3. Một Bên vì hiến pháp và các nguyên tắc hiến pháp của họ không cho phép thực hiện việc cấm toàn diện việc quảng cáo sẽ áp dụng việc hạn chế tất cả các hoạt động quảng cáo, khuyến mãi và tài trợ thuốc lá. Việc này sẽ bao gồm, tuỳ thuộc môi trường luật pháp và các phương tiện kỹ thuật sẵn có của Bên đó, hạn chế hoặc cấm toàn diện việc quảng cáo, khuyến mãi và tài trợ thuốc lá với hiệu quả xuyên biên giới xuất phát từ lãnh thổ nước mình. Liên quan đến việc này, mỗi Bên sẽ đảm nhận tiến hành các hoạt động lập pháp, hành pháp và hành chính phù hợp và báo cáo kết quả theo quy định tại Điều 21.

4. Mỗi Bên, ở mức tối thiểu, và tuỳ theo hiến pháp hoặc các nguyên tắc hiến pháp của nước mình, sẽ:      

(a) cấm mọi hình thức quảng cáo, khuyến mãi và tài trợ thuốc lá nhằm khuyến mãi một sản phẩm thuốc lá bằng bất kỳ phương thức gì gian dối, sai lệch, lừa bịp hoặc hoặc dễ tạo ra một ấn tượng sai lầm về tính chất, tác động đối với sức khoẻ, các tác hại hoặc sự toả khói thuốc;

(b) yêu  cầu rằng những lời cảnh báo về sức khoẻ hoặc những lời cảnh báo  hoặc thông điệp phù hợp khác luôn đi kèm mọi quảng cáo và, ở mức thích hợp, với  việc khuyến mãi và tài trợ;

(c) hạn chế việc sử dụng khuyến khích vật chất trực tiếp hoặc gián tiếp nhằm khuyến khích dân chúng mua các sản phẩm thuốc lá;

(d)  yêu cầu, nếu chưa cấm hoàn toàn việc quảng cáo, phải tiết lộ với các nhà chức trách chính phủ về các chi phí mà ngành công nghiệp thuốc lá dùng để quảng cáo, khuyến mãi và tài trợ còn chưa bị cấm. Các nhà chức trách này, tuỳ theo quy định của luật pháp quốc gia, có thể công bố con số này cho công chúng biết và tại Hội nghị các Bên theo quy định của Điều 21;

(e) đảm nhận thực hiện trong khoảng thời gian 5 năm việc cấm toàn diện hoặc, trong trường hợp của Bên chưa thực hiện được việc cấm toàn diện vì lý do hiến pháp hoặc các nguyên tắc của hiến pháp thì thực hiện việc hạn chế quảng cáo, khuyến mãi và tài trợ thuốc lá trên đài phát thanh, vô tuyến truyền hình, các phương tiện truyền thông bằng in ấn và ở mức phù hợp, trên các phương tiện truyền thông khác như internet; và

(f)  cấm, hoặc trong trường hợp của Bên chưa thực hiện được việc cấm toàn diện vì lý do hiến pháp hoặc các nguyên tắc của hiến pháp thì thực hiện việc hạn chế tài trợ của các công ty thuốc lá cho các sự kiện, hoạt động quốc tế  hoặc người  tham gia vào những sự kiện, hoạt động này.

5. Các Bên được khuyến khích thực hiện các biện pháp ngoài các nghĩa vụ nêu trong đoạn 4.

6. Các Bên sẽ hợp tác trong việc phát triển các kỹ thuật và các biện pháp cần thiết  khác để tạo điều kiện loại bỏ việc quảng cáo xuyên biên giới.

7. Các Bên đã cấm một số hình thức quảng cáo, khuyến mãi và tài trợ, có chủ quyền cấm các hình thức quảng cáo, khuyến mãi và tài trợ xuyên biên giới xâm nhập vào lãnh thổ  nước mình và có quyền áp đặt các hình thức trừng phạt tương đương như các trường hợp vi phạm việc quảng cáo, khuyến mãi và tài trợ xuất phát từ bên trong lãnh thổ theo quy định của luật pháp quốc gia. Đoạn này không phê chuẩn hoặc chấp thuận bất kỳ hình thức trừng phạt đặc biệt nào.

8. Các Bên sẽ xem xét việc soạn thảo một nghị định thư nhằm đưa ra các biện pháp phù hợp để yêu cầu sự phối hợp quốc tế nhằm cấm toàn diện việc quảng cáo, khuyến mãi và tài trợ xuyên biên giới.

Điều 14: Những biện pháp giảm cầu liên quan đến cai nghiện thuốc lá.

1. Mỗi Bên sẽ phát triển và phổ biến các hướng dẫn phù hợp, toàn diện và mang tính lồng ghép dựa trên các chứng cứ khoa học và các thực hành tốt, có tính đến các ưu tiên và hoàn cảnh quốc gia, và tiến hành các biện pháp hiệu quả để đẩy mạnh việc cai nghiện thuốc lá và điều trị đầy đủ đối với việc phụ thuộc vào thuốc lá.

2. Nhằm mục đích này mỗi Bên sẽ nỗ lực để:

(a) thiết kế và thực hiện các chương trình có hiệu quả nhằm đẩy mạnh việc cai nghiện thuốc lá tại các địa điểm như các cơ sở giáo dục, y tế, nơi làm việc và nơi diễn ra các hoạt động thể thao;

(b) bao gồm việc chẩn đoán và điều trị sự phụ thuộc vào thuốc lá và các dịch vụ tư vấn về cai nghiện thuốc lá trong các chương trình, kế hoạch và chiến lược về  y tế và giáo dục quốc gia với sự tham gia của các nhân viên y tế, nhân viên cộng đồng và các nhân viên xã hội ở mức phù hợp;

(c) thiết lập dịch vụ chẩn đoán, tư vấn, phòng ngừa và điều trị việc phụ thuộc vào thuốc lá tại các cơ sở y tế và các trung tâm phục hồi chức;

(d) phối hợp với các Bên khác để tạo điều kiện về có khả năng tiếp cận và khả năng chi trả đối việc điều trị cai nghiện thuốc lá bao gồm các dược phẩm theo quy định tại Điều 22. Các sản phẩm như vậy và thành phần của chúng có thể gồm thuốc, các sản phẩm dùng để sử dụng thuốc và các chất dùng trong chẩn đoán khi thích hợp.

Phần IV: Các biện pháp liên quan đến giảm cung cấp thuốc lá.

Điều 15: Buôn bán bất hợp pháp các sản phẩm thuốc lá[2]

1. Các Bên công nhận rằng việc loại bỏ mọi hình thức buôn bán bất hợp pháp các sản phẩm thuốc lá bao gồm buôn lậu, sản xuất bất hợp pháp và làm giả, và việc phát triển và thi hành các luật quốc gia liên quan, ngoài các hiệp định của tiểu khu vực, khu vực và   toàn cầu là các thành tố thiết yếu của việc kiểm soát thuốc lá.

2. Mỗi Bên sẽ thông qua và thi hành các biện pháp lập pháp, hành pháp, hành chính  và các biện pháp khác có hiệu quả để đảm bảo rằng  tất cả các bao thuốc và các gói của các sản phẩm thuốc lá và bất kỳ bao gói bên ngoài nào của các sản phẩm như vậy phải được đánh dấu để giúp cho các Bên xác định được nguồn gốc của các sản phẩm thuốc lá,  và phù hợp với luật pháp quốc gia và các hiệp định đa phương hoặc song phương phù hợp, giúp các Bên trong việc xác định điểm chuyển hướng và theo rõi, thu thập tài liệu và kiểm soát sự di chuyển của các sản phẩm thuốc lá và tính hợp pháp của chúng. Ngoài ra, mỗi bên sẽ:

(a) yêu cầu rằng mỗi bao thuốc và mỗi gói các sản phẩm thuốc lá để bán buôn và bán lẻ bán ở thị trường trong nước mang dòng chữ: “Chỉ được phép bán tại (tên của nước, tiểu quốc gia, khu vực hoặc đơn vị  liên bang)” hoặc mang bất kỳ dấu hiệu gì có hiệu quả chỉ rõ điểm đến cuối cùng hoặc những dấu hiệu giúp cho nhà chức trách xác định sản phẩm thuốc lá đó có hợp pháp để cho phép bán tại thị trường trong nước hay không; và

(b) xem xét, ở mức phù hợp, việc phát triển một phương thức thực tiễn để theo dõi đường đi và lần theo dấu vết để đảm bảo an toàn hơn nữa cho hệ thống phân phối và giúp cho việc điều tra buôn lậu bất hợp pháp các sản phẩm thuốc lá.

3. Mỗi Bên sẽ yêu cầu rằng các thông tin về đóng gói hoặc các ký hiệu đánh dấu nêu trong đoạn 2 của Điều khoản này sẽ được trình bày dưới dạng đọc được và/hoặc được thể hiện bằng ngôn ngữ  hoặc các ngôn ngữ chính.

4. Để loại bỏ việc buôn bán các sản phẩm thuốc lá bất hợp pháp, mỗi Bên sẽ:

(a) theo dõi và thu thập các số liệu về việc buôn bán các sản phẩm thuốc lá qua biên giới, bao gồm cả buôn bán bất hợp pháp, và trao đổi thông tin giữa các cơ quan hải quan, cơ quan thuế và các cơ quan có thẩm quyền khác, tuỳ theo sự thích hợp, và phù hợp với luật pháp quốc gia và các hiệp định đa phương hoặc song phương phù hợp có thể áp dụng;

(b) ban hành hoặc tăng cường các quy định pháp luật với các hình phạt phù hợp và các biện pháp để khắc phục việc buôn bán bất hợp pháp các sản phẩm thuốc lá bao gồm cả thuốc lá giả và thuốc lá nhái nhãn mác;

(c) tiến hành các bước thích hợp để đảm bảo rằng tất cả các phương tiện sản xuất, thuốc lá giả, thuốc lá nhái nhãn mác và các sản phẩm thuốc lá bị tịch thu  được tiêu huỷ,  sử dụng các phương pháp tiêu huỷ không ảnh hưởng tới môi trường ở những nơi có thể, hoặc huỷ bỏ theo đúng luật pháp trong nước;

(d) thông qua và thực hiện các biện pháp để theo rõi, thu thập tài liệu và kiểm soát việc lưu kho, phân phối các sản phẩm thuốc lá bị giữ lại hoặc di chuyển do việc tạm đình chỉ thuế hoặc thuế hàng hoá trong phạm vi quyền tài phán của Bên đó; và

(e) thông qua các biện pháp tuỳ theo sự thích hợp tạo điều kiện cho việc tịch thu các khoản tiền thu được từ việc buôn bán bất hợp pháp các sản phẩm thuốc lá;

5. Các thông tin thu thập được theo các tiểu đoạn 4(a) và 4(d) của Điều khoản này sẽ, tuỳ theo sự thích hợp, được cung cấp trong mẫu tập hợp bởi các Bên trong các báo cáo định kỳ gửi cho Hội nghị các Bên theo Điều 21.

6. Các Bên, tuỳ theo sự thích hợp và theo quy định của luật pháp quốc gia sẽ thúc đẩy sự hợp tác giữa các tổ chức trong nước cũng như các tổ chức khu vực, quốc tế và phi chính phủ phù hợp trong việc điều tra, truy tố và tố tụng nhằm loại bỏ việc buôn bán bất hợp pháp các sản phẩm thuốc lá. Đặc biệt nhấn mạnh tới sự hợp tác tại cấp độ khu vực, tiểu khu vực trong cuộc chiến chống lại việc buôn bán bất hợp pháp các sản phẩm thuốc lá.

7. Mỗi Bên sẽ nỗ lực thông qua và thi hành thêm các biện pháp bao gồm việc cấp giấy phép ở những nơi thích hợp để kiểm soát hoặc điều chỉnh việc sản xuất và phân phối các sản phẩm thuốc lá  nhằm ngăn chặn việc buôn bán bất hợp pháp.

Điều 16: Bán thuốc lá cho và bởi trẻ vị thành niên

1. Mỗi Bên sẽ thông qua và thi hành các biện pháp lập pháp, hành pháp, hành chính và các biện pháp khác có hiệu quả tại cấp chính phủ phù hợp để cấm việc bán các sản phẩm thuốc lá cho những người dưới tuổi quy định bởi luật trong nước, luật quốc gia hoặc người dưới 18 tuổi. Những biện pháp này có thể bao gồm:

(a) yêu cầu rằng mọi người bán các sản phẩm thuốc lá đặt một bảng hiệu rõ ràng và nổi bật tại các điểm bán của họ về việc cấm bán thuốc lá cho trẻ vị thành niên, và trong trường hợp nghi ngờ yêu cầu mỗi người mua thuốc lá cung cấp bằng chứng phù hợp để chứng minh họ đã đến tuổi hợp pháp để mua thuốc lá.

(b) cấm bán các sản phẩm thuốc lá bằng bất kỳ phương thức nào mà người mua có thể trực tiếp tiếp cận với các sản phẩm này như các giá bầy hàng trong cửa hàng;

(c)  cấm việc sản xuất và bán các loại kẹo, đồ ăn nhẹ, đồ chơi và các vật khác mang hình dáng của các sản phẩm thuốc lá mà những vật này hấp dẫn đối với trẻ vị thành niên; và

(d) đảm bảo rằng trong phạm vi quyền tài phán của mình các máy tự động bán thuốc lá không tiếp cận được đối với trẻ vị thành niên và không khuyến khích việc bán thuốc lá cho trẻ vị thành niên.

2. Mỗi Bên sẽ cấm hoặc khuyến khích việc cấm phân phát các sản phẩm thuốc lá không mất tiền cho công chúng đặc biệt là cho trẻ vị thành niên..

3. Mỗi Bên sẽ nỗ lực ngăn cấm việc bán thuốc lá lẻ hoặc những bao thuốc lá nhỏ mà điều này sẽ làm tăng khả năng chi trả đối với các sản phẩm này ở trẻ vị thành niên.

4. Các Bên công nhận rằng để tăng tính hiệu quả, các biện pháp ngăn chặn việc bán thuốc lá cho trẻ vị thành niên, ở những nơi phù hợp, phải được thực hiện cùng với các điều khoản khác trong Công ước này.

5. Khi ký,  phê chuẩn, chấp thuận hoặc đồng ý với Công ước hoặc vào bất kỳ thời điểm nào sau đó, một Bên có thể, bằng một văn bản tuyên bố mang tính ràng buộc, nêu rõ những cam kết của mình cấm việc đưa vào sử dụng các máy bán thuốc lá trong phạm vi quyền tài phán của mình, hoặc, ở mức phù hợp, cấm hoàn toàn các máy bán thuốc lá. Tuyên bố được đưa ra theo Điều khoản này sẽ được người giữ văn kiện truyền đạt tới tất cả các Bên tham gia Công ước.

6. Mỗi  Bên sẽ thông qua và thực hiện các biện pháp lập pháp, hành pháp, hành chính và các biện pháp hữu hiệu khác, bao gồm cả việc xử phạt những người bán và phân phối thuốc lá để đảm bảo việc tuân thủ các nghĩa vụ quy định tại đoạn 1-5 của Điều khoản này.

7. Mỗi Bên cần, ở mức phù hợp, thông qua và thực hiện các biện pháp lập pháp, hành pháp, hành chính và các biện pháp hữu hiệu khác để cấm việc bán thuốc lá cho những người chưa đến tuổi theo quy định của luật pháp địa phương, quốc gia hoặc người dưới 18 tuổi.

Điều 17: Cung cấp sự hỗ trợ cho các hoạt động  thay thế khả thi về kinh tế.

Các Bên sẽ, bằng cách phối hợp với nhau và với các tổ chức quốc tế và các tổ chức liên  chính phủ khu vực có thẩm quyền,  thúc đẩy, ở mức phù hợp, những lựa chọn khả thi về kinh tế cho người trồng thuốc lá, công nhân sản xuất thuốc lá và có thể cả những cá nhân bán thuốc lá.